Bài này nhằm trình bày các vấn đề liên quan đến họ phương Đông như một họ có nhiều âm hay nhiều họ cùng âm và các kiểu phiên âm họ từ chữ Hán.
Nói chung, việc nhiều họ có cùng âm là do cách phiên âm từ chữ Hán giống nhau. Mặc dù về cách đọc (trong tiếng Hán) thường khác nhau. Ví dụ Di là âm có nhiều họ nhất (7 họ): Di (怡), Di (颐), Di (夷), Di (贻), Di (移), Di (弥), Di (台). Trong đó, họ 弥 có phiên âm giản thể là Mi, nhưng phồn thể là Di và cũng là âm của họ. 台 thì thường được phiên là Thai (tāi) hoặc Đài (tái), nhưng nó còn có âm là Di (yí).
Có một điều đáng lưu ý là các họ được phiên âm qua chữ Hán thường phải dùng phồn thể. Vì các họ đã xuất hiện từ lâu khi mà chữ giản thể chưa hình thành. Vả lại, một chữ giản thể có thể tương ứng với nhiều chữ phồn thể và một số họ không có cách viết giản thể tương ứng.
Âu (区)
Chữ 区 có 2 cách đọc là qū (Khu) và ōu (Âu). Đối với họ là Âu dù âm này ít phổ biến hơn.
Bào (鲍)
Chữ 鲍 giản thể phiên âm là Bảo, nhưng phồn thể thì thường phiên là Bào. Tương tự với trường hợp họ Đãng (砀, giản thể phiên Nãng)
Bảo/Bửu (宝)
Chữ 宝 phiên âm là Bảo nhưng phương ngữ miền nam đọc là Bửu nên có hai cách gọi. Tương tự với các họ Đan/Đơn (单), Đái/Đới (戴), Lư/Lô (盧), Lữ/Lã (吕), Thật/Thực (実, Jitsusaki – họ người Nhật), Triều/Trào (朝).
Xem thêm trường hợp của Doãn/Duẫn (尹) và Dong/Dung (容) phía dưới.
Bôn (贲)
Chữ 贲 chủ yếu phiên âm là Bí (bì). Bôn hầu như chỉ dùng khi chỉ họ.
Chấp/Trấp (汁)
Tuỳ theo cách chuyển tự latin mà 汁 có cách viết chữ quốc ngữ là Chấp hay Trấp. Tuy nhiên Chấp phổ biến hơn.
Chu/Châu (朱), Chu (周)
Chữ 朱 có nghĩa là màu đỏ, phiên âm là Châu. Nhưng về cách đọc là zhū nên thường phiên âm là Chu. Chu là cách phiên âm khoa học hơn và đối với họ cũng thường được phiên âm theo cách này. Còn 周 thì thường được phiên là Chu, bắt nguồn từ bộ tộc Chu, nhà Chu. Nhưng do cách đọc là zhōu nên nhiều nhà dịch thuật gốc Hoa (sống ở miền Nam) đã phiên âm lại thành Châu gây ra hiện tượng lẫn lộn về cách phiên âm giữa hai họ này. Tuy nhiên, đối với hai họ này, Bách khoa người phương Đông vẫn giữ cách phiên âm là Chu do tính phổ biến và lịch sử. Trong tiếng Triều Tiên, cả hai chữ này đều được viết là 주 (âm Ju); tiếng Nhật âm shu và shū nên phù hợp với cách phiên âm Chu hơn.
Ở Việt Nam chỉ có họ Chu (2 họ trên). Họ Châu thực chất là họ Chu đọc chệch do kị huý tên chúa Nguyễn – Nguyễn Phúc Chu. Tương tự với các họ Hoàng/Huỳnh (黄, từ chỉ vua, kị huý chúa Nguyễn Hoàng), Nhâm/Nhậm/Nhiệm (任, kị huý tên vua Tự Đức Nguyễn Hồng Nhậm)
Doãn/Duẫn (尹)
Chữ 尹 có âm là yǐn (Duẫn) nhưng ta quen đọc là Doãn. Do đó, họ này trở thành họ Doãn. Tương tự các trường hợp họ Đoàn/Đoạn (段), Nhiếp/Niếp (聂), Phàn/Phiền (樊), Thời/Thì (时), Thứ/Thích (刾).
Dong/Dung (容)
Chữ 容 có âm là róng (Dong) nhưng vì quen đọc là Dung (như dung mạo) nên thường phiên là họ Dung. Tuy nhiên, để phân biệt, chúng tôi vẫn để là Dong để tránh trùng lặp với họ 融. Tương tự các trường hợp:
- Khỉ (绮): âm qǐ, quen đọc là Ỷ. Ỷ là họ 扆.
- Nông (侬): âm nóng, tục thường gọi là Nùng.
- Thái (蔡): âm cài, quen đọc là Sái. Sái là họ 祭.
- Thải (采): âm cǎi, quen đọc là Thái. Thái là họ 蔡, 菜 hoặc 太.
Đam Đài (澹台)
Chữ 澹 âm là Đạm nhưng khi ghép cùng 台 với nghĩa là một họ thì lại chuyển âm là Đam. Tương tự các trường hợp họ Gia Cát (诸葛, 诸 phiên là Chư), Lộc Lí (角里, 角 phiên là Giác), Uất Trì (尉迟, 尉 phiên là Uý).
Khâu/Khưu/Khiêu (丘)
Chữ 丘 phiên âm là Khâu, ta hay đọc là Khưu. Nhưng ở một số trường hợp còn được phiên là Khiêu. Tuy nhiên, trường hợp Khâu đúng hơn và vẫn áp đảo hơn.
Lịch/Li (郦)
郦 (Li) là tên cũ của nước Lỗ thời xưa. Tuy nhiên, đối với họ thì lại là Lịch. Tương tự với các họ Bà/Phiên (番), Liệu/Liêu (廖), Ngỗi/Ngôi (隗), Tăng/Tằng (曾), Trừ/Trữ (储), Uất/Uý (蔚), Úc/Uất (郁).
Mặc Kì (万俟)
Hai chữ 万俟 là Vạn Sĩ. Nhưng khi dùng để gọi một bộ lạc người Tiên Ti thì lại là Mặc Kì.
Nễ (祢)
祢 là giản thể phiên là Nỉ, chữ phồn thể 禰 lại phiên là Nễ. Cả hai đều đọc là nǐ.
Ngao/Ngạo (敖)
Chữ 敖 phiên âm là Ngao, nhưng cũng có âm là Ngạo. Họ Ngao, đôi khi bị phiên thành Ngạo. Tương tự với trường hợp họ Ứng/Ưng (应).
Sơn/San (山)
Chữ 山 là San, họ San nhưng cũng được phiên là Sơn. Âm Sơn được dùng nhiều hơn.
Suý/Soái (帅)
Chữ 帅 thường được phiên là Suất hay Suý, họ là Suý. Nhưng vì cách đọc là shuài nên hay dịch thành Soái (như nguyên soái).
Trạch (翟)
Chữ 翟 đọc là dí (Địch) nhưng đối với họ thì lại đọc là zhái (Trạch). Một số từ điển ghi là họ Trác.
Vũ/Võ (武)
Chữ 武 âm wǔ, phiên là Vũ nhưng ta quen gọi là Võ (như võ thuật). Do đó, 2 họ này thực chất là một.
Yên (燕)
Chữ 燕 là Yến (con chim én) nhưng cũng là tên 1 quốc gia nhỏ thời xưa, đọc là Yên. Đây cũng là nguồn gốc họ Yên này.
Theo cách phiên âm một số từ điển
Đồng (佟) -> Đông
Ngọc (玉) -> Túc
Trử (褚) -> Trữ
Lộc/Lục (逯): tuỳ từng từ điển có các cách phiên âm là Lộc hay Lục
Xem thêm
| Thể loại | Họ phương Đông | Ngôn ngữ |
Filed under: Bách khoa









